Qua kiểm tra, Đoàn đã tổng kết và đánh giá những kết quả chủ yếu sau: Thứ nhất, đa số các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố, xã, phường, thị trấn được kiểm tra (sau đây gọi chung là cơ quan, địa phương, đơn vị) đã cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh để tổ chức thực hiện, đồng thời ban hành khá kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT) đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể; tăng cường công tác quản lý nhà nước, tạo cơ sở để công TĐKT chuyển biến theo hướng tích cực, phù hợp với tình hình thực tế của từng cơ quan, địa phương, đơn vị. Thứ hai, hầu hết các cơ quan, địa phương, đơn vị có quan tâm công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh về công tác TĐKT, các gương người tốt, việc tốt và điển hình tiên tiến, đặc biệt tập trung tuyên truyền phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’ bằng nhiều hình thức như: Trên Báo Kiên Giang, Đài Phát thanh và Truyền hình Kiên Giang (sở, ngành tỉnh), Đài truyền thanh cấp huyện, trang thông tin điện tử…. Thứ ba, hàng năm đều có kế hoạch phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ; một số sở, ngành phát động thi đua chuyên đề nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hoặc hoạt động có tính chất chuyên môn sâu nhằm khích lệ, động viên, khuyến khích những tập thể, cá nhân phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị; một số phong trào thi đua có sức lan tỏa tốt như phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”; phong trào “Vì an ninh Tổ quốc”; phong trào “Đền ơn -đáp nghĩa” , “Vì người nghèo”,… Thứ tư, các cơ quan, địa phương, đơn vị đều đã kiện toàn Hội đồng Thi đua - Khen thưởng và Hội đồng xét sáng kiến, có quy chế hoạt động đầy đủ. Thứ năm, các cơ quan, địa phương, đơn vị cơ bản thực hiện công tác khen thưởng đúng thẩm quyền, đúng qui định, chất lượng khen thưởng có được nâng lên, qua đó kịp thời động viên, khuyến khích các tập thể có thành tích xuất sắc; việc chuẩn bị hồ sơ, nhất là báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng từ cấp tỉnh trở lên ngày càng chặt chẽ, đảm bảo tính trung thực, đúng thực tế, đúng mẫu; công tác thẩm định đề nghị khen thưởng của các địa phương từng bước nâng lên. Thứ sáu, việc trích lập, quản lý, sử dụng quỹ khen thưởng cơ bản đúng qui định.
Tuy nhiên qua kiểm tra cũng phát hiện những hạn chế, yếu kém, thể hiện: Việc chỉ đạo công tác TĐKT của một số cơ quan, địa phương, đơn vị còn chung chung, có nơi còn hình thức; tổ chức phát động phong trào thi đua có nơi chưa xác định rõ chủ đề, tên gọi, nội dung thi đua không rõ, tiêu chuẩn thi đua chưa cụ thể, thiếu định lượng; công tác kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở trong công tác TĐKT thiếu thường xuyên; việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, nhân điển hình tiên tiến chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao; việc chọn lựa và xây dựng kế hoạch phát động thi đua theo đợt, theo chuyên đề nhìn chung còn hạn chế về số lượng, mục tiêu chưa rõ ràng, nội dung chưa cụ thể, tiêu chí thi đua chưa chặt chẽ…. Thứ hai, quy trình xét danh hiệu thi đua từ cơ sở nhưng đa số bình bầu theo danh sách, chưa có báo cáo thành tích và báo cáo sáng kiến (đối với Chiến sĩ thi đua) trước khi bình bầu; tỷ lệ khen thưởng còn tập trung nhiều cho lãnh đạo quản lý, khen thưởng cho công chức, viên chức, người trực tiếp lao động, sản xuất, tập thể nhỏ còn ít; một số đơn vị việc xét khen thưởng chưa đúng qui trình, còn thiếu hồ sơ lưu trữ như: biên bản họp xét từ cơ sở, không có báo cáo thành tích của tập thể, cá nhân…. Thứ ba, việc sử dụng quỹ khen thưởng ở cấp huyện chưa có sự thống nhất chung, có nơi Chủ tịch UBND huyện công nhận danh hiệu Lao động tiên tiến, tập thể Lao động tiên tiến cho đối tượng thuộc đơn vị sự nghiệp thuộc UBND huyện, ngành Giáo dục và Đào tạo, UBND cấp xã nhưng không chi thưởng mà giao những đơn vị này chi, có nơi công nhận danh hiệu Lao động tiên tiến cho ngành Giáo dục và Đào tạo năm 2014 nhưng chưa chi thưởng vì âm quỹ; có nơi chi thưởng chưa đúng đối tượng (Cấp ủy khen chi bộ, đảng viên nhưng tiền thưởng lại chi từ quỹ khen thưởng của chính quyền); hầu hết cấp huyện, cấp xã chưa sử dụng 20% quỹ khen thưởng để chi cho công tác tổ chức phong trào thi đua; một số sở ngành tỉnh và cấp huyện chưa tuân thủ tỷ lệ xét công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở là 15% so tống số đạt danh hiệu Lao động tiên tiến.
Đối với từng đơn vị được kiểm tra, Đoàn Kiểm tra đã có kết luận về ưu, khuyết điểm nổi bật. Qua kiểm tra Đoàn Kiểm tra đã kiến nghị: Đối với các đơn vị được kiểm tra: Khắc phục ngay các hạn chế, thiếu sót đã được Đoàn Kiểm tra kết luận tại cuộc làm việc với từng cơ quan, địa phương, đơn vị, đồng thời có báo cáo kết quả khắc phục gửi về UBND tỉnh (qua Ban TĐKT tỉnh) chậm nhất cuối quí I/2015. Kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo chấn chỉnh việc trích lập và sử dụng Quỹ thi đua, khen thưởng tại các địa phương theo hướng: Cấp nào khen thì cấp đó chi thưởng; Quỹ khen thưởng của UBND cấp huyện, cấp xã chỉ thưởng các đối tượng do Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã khen theo thẩm quyền. Kiến nghị Sở Tài chính có hướng dẫn phòng Tài chính - Kế hoạch các huyện, thị xã, thành phố thực hiện thống nhất việc trích lập và sử dụng Quỹ Thi đua, Khen thưởng theo Thông tư số 71/2011/TT-BTC ngày 24/5/2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn trích lập, quản lý và sử dụng Quỹ Thi đua, Khen thưởng./.
HC