Theo đó, quan điểm Quy hoạch ngành Văn thư, Lưu trữ (VTLT) là: Phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020; nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành Nội vụ; phải có tầm nhìn dài hạn và phải có lộ trình thích hợp theo yêu cầu phát triển của từng giai đoạn; phải phù hợp với yêu cầu hợp tác quốc tế chuyên môn, nghiệp vụ, khoa học công nghệ và công tác văn thư, lưu trữ.
Mục tiêu tổng quát: Quản lý thống nhất công tác VTLT trên phạm vi cả nước; bảo vệ, bảo quản an toàn và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; định hướng sự phát triển của công tác VTLT đến năm 2020 nhằm góp phần cung cấp thông tin làm căn cứ để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng kế hoạch, cân đối, phân bổ các nguồn lực cho quá trình đầu tư phát triển đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020; tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, đầy đủ để quản lý nhà nước về công tác VTLT; làm căn cứ cho các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước xây dựng kế hoạch hàng năm, xây dựng và phê duyệt các dự án đầu tư phát triển về lĩnh vực VTLT, đồng thời chủ động trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực.
Mục tiêu cụ thể: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản nghiệp vụ kỹ thuật để quản lý công tác VTLT trữ đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước và hội nhập hiệu quả; Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy VTLT từ trung ương đến địa phương đủ điều kiện thực hiện chức năng quản lý thống nhất công tác VTLT; Xây dựng nhân lực văn thư, lưu trữ chất lượng cao, đảm bảo yêu cầu thực hiện thành công các nhiệm vụ đặt ra cho ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập của đất nước; Xây dựng hệ thống cơ sở vật chấp đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về VTLT; bảo vệ, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia; Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá công tác VTLT.
Các chỉ tiêu về công tác văn thư đến năm 2020 gồm: 100% cơ quan nhà nước thực hiện quản lý văn bản đi, văn bản đến theo quy định; 100% cơ quan nhà nước triển khai và duy trì hệ thống mạng nội bộ, hệ thống thư điện tử phục vụ cho việc trao đổi, chia sẻ thông tin; 50% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan nhà nước được hiện trên môi trường mạng, sử dụng chữ ký số đảm bảo yêu cầu bảo mật thông tin; 80% cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, 50% tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sử dụng thư điện tử cho công việc. Việc triển khai sử dụng phần mềm quản lý, xử lý văn bản đi, đến và điều hành lập hồ sơ công việc trong môi trường mạng đạt 80% tại các vụ, Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và đạt 50% tại các Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trrực thuộc Trung ương. Đến năm 2030, con số này sẽ đạt 90% tại cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương.
Các chỉ tiêu đối với công tác lưu trữ gồm: Đến năm 2020, tổng số tài liệu tại các Lưu trữ lịch sử khoảng 400.000 mét giá; 100% tài liệu được chỉnh lý hoàn chỉnh bao quản trong các kho lưu trữ chuyên dụng tại các Lưu trữ lịch sử, trong đó 20.000.000 trang tài liệu được số hoá; 10% hồ sơ lưu trữ được khai thác sử dụng, 30% hồ sơ tài liệu được công bố, triển lãm giới thiệu cho công chúng; bình quân phục vụ 10.000 lượt người/năm đến khai thác sử dụng tài liệu. Đến năm 2030, sẽ có 700.000 mét giá tài liệu được bảo quản tại các Lưu trữ lịch sử, trong đó 40.000.000 trang tài liệu được số hoá; 50% hồ sơ lưu trữ được khai thác sử dụng, 50% hồ sơ tài liệu được công bố, triển lãm; phục vụ 20.000 lượt người/năm đến khai thác sử dụng, trong đó 20% thông tin của tài liệu lưu trữ được cung cấp trên mạng diện rộng…
Về cơ cấu tổ chức: Kiện toàn cơ cấu tổ chức hiện có của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước theo mô hình Tổng cục Văn thư - Lưu trữ.
Về nhân lực ngành VTLT: Đến năm 2015 dự báo nhu cầu nhân lực vào khoảng 880 người; Đến năm 2020 dự kiến là khoảng 1000 người; Đến năm 2030, dự kiến nhu cầu nhân lực khoảng 1200 người. Trong đó nhân lực VTLT tại các địa phương được hoạch định như sau: Năm 2015 là 35.000 người, 100% qua đào tạo, trong đó: 30% có trình độ đại học; 40% có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp; 30% đào tạo nghề hoặc sơ cấp; năm 2020 là 70.000 người, 100% qua đào tạo, trong đó: 30% có trình độ đại học; 40% có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp; 25% đào tạo nghề hoặc sơ cấp; năm 2030 là 74.000 người, 100% qua đào tạo, trong đó: 30% có trình độ đại học; 45% có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp; 25% đào tạo nghề hoặc sơ cấp. Ngoài ra, Quyết định 579/QĐ-BNV cũng đề cập đến việc Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản nghiệp vụ kỹ thuật về công tác VTLT; chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học; hệ thống cơ sở vật chấp; giải pháp thực hiện…trong quy hoạch ngành./.
NĐ