THỰC TRẠNG VỀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ CƠ SỞ

Trong thực tế, ba đều người đều có trình độ chuyên môn bậc đại học như nhau, thời gian công tác như nhau, cùng hoạt động trên một địa bàn như nhau, nhưng có thể hưởng chế độ lương, phụ cấp khác nhau,…Bỡi lẽ vì, một người là cán bộ; một người công chức; một người là những người hoạt động không chuyên trách.#160;

Trước khi có Nghị định số 46/CP ngày 23/6/1993, của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ đảng, chính quyền và kinh phí hoạt động của  các đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn. Đối với cán bộ hưởng sinh hoạt phí cấp xã mức phụ cấp cao nhất là 200.000 đồng/người/tháng (Bí thư Đảng ủy xã); thấp nhất là 160.000 đồng/người/tháng (Phó Bí thư đoàn). Đối với các chức danh bầu cử và cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ sau 5 năm công tác liên tục nếu được tái cử và tiếp tục công tác chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng phụ cấp 5% (thâm niên) của mức sinh hoạt phí đang hưởng kể từ năm thứ 6 trở đi. Cán bộ có thời gian tham gia công tác tại xã liên tục từ 5 năm trở lên nếu được cấp trên trực tiếp quyết định cho nghỉ việc thì được hưởng trợ cấp 1 lần, mỗi năm công tác được hưởng 1 tháng phụ cấp sinh hoạt phí đang hưởng.

Từ sau khi có Nghị định số 46/CP ngày 23/6/1993, đến trước khi có Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, của Chính phủ về chế độ chính sách đối với xã, phường, thị trấn. Đối với cán bộ hưởng sinh hoạt phí cấp xã cao nhất 270.000 đồng/người/tháng (Bí thư Đảng ủy xã); thấp nhất 210.000 đồng/người/tháng (Phó Chủ tịch Mặt trận). Đối với các chức danh bầu cử nếu tái cử từ năm thứ 6 trở đi được hưởng thêm phụ cấp 5%, cán bộ hưởng sinh hoạt phí đều được tham gia BHXH, khi nghỉ hưu, nghỉ việc được hưởng chế độ BHXH theo quy định.

Từ khi có Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, đến trước khi có Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ, về chức danh, số lượng một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

- Đối với cán bộ chuyên trách, được thực hiện chuyển xếp theo hệ số lương, chức vụ (có 2 bậc lương), người được hưởng mức lương theo hệ số cao nhất là 2,00 so với mức tiền lương tối thiểu chung (Bí thư Đảng ủy), người được hưởng hệ số thấp nhất là 1,70 (Bí thư đoàn), tái cử ở các chức danh cán bộ chuyên trách thì được hưởng phụ cấp tái cử là 5%, ngoài ra còn được hưởng thêm phụ cấp kiêm nhiệm (nếu kiêm nhiệm).

- Đối với công chức, đã tốt nghiệp chuyên môn, nghiệp vụ được thực hiện xếp lương theo ngạch, bậc của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004.

- Cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã đều được tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và được hưởng mọi quyền lợi như công chức cấp huyện.

Từ khi có Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, của Chính phủ về chức danh, số lượng một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

- Đối với cán bộ, công chức được thực hiện chế độ tiền lương và các loại phụ cấp như công chức cấp huyện và được tham gia BHXH, BHYT theo quy định, đối với cán bộ giữ các chức vụ bầu cử chưa có bằng tốt nghiệp chính trị, chuyên môn nghiệp vụ được hưởng theo hệ số lương chức vụ đang đảm nhiệm và được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm, phụ cấp theo phân loại đơn vị hành chính xã.

- Đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ấp, khu phố đều được tỉnh hỗ trợ 100% mức đóng BHXH tự nguyện; về BHYT những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã được tham gia theo quy định, tỉnh còn hổ trợ 2/3 mức đóng BHYT tự nguyện cho các đối tượng như phó công an, công an viên ở xã; phó quân sự, chiến sĩ dân quân thường trực tại xã, phường, thị trấn và bí thư, trưởng, phó ấp, khu phố.

- Ngoài số lượng được quy định, tỉnh còn bố trí thêm 5 chức danh đứng đầu các đoàn thể ấp, khu phố; hỗ trợ mức phụ cấp 0,55/người/tháng so mức lương tối thiểu chung.          

I. Ưu điểm, tiến bộ:

Nhìn chung, về số lượng can bộ, công chức có tăng lên (629 người); những người hoạt động không chuyên trách cấp xã (301 người); những người hoạt động không chuyên trách ấp, khu phố (140 người). Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức cấp xã được quy định trong Luật cán bộ, công chức; Bộ Nội vụ đã ban hành quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ quy định về tiêu chuẩn; tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá; thôi việc và thủ tục nghĩ hưu; xử lý kỷ luật; quản lý công chức xã, phường, thị trấn.

Chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức xã được cải cách từ hưởng sinh hoạt phí đến được xếp lương ngạch, bậc, theo trình độ đào tạo, được hưởng phụ cấp đặc biệt, phụ cấp công vụ, được tham gia đóng Bảo hiểm Xã hội, Bảo hiểm Y tế; đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, ấp, khu phố, mức phụ cấp được nâng dần lên theo từng thời gian, đời sống cán bộ, công chức cơ sở có bước cải tiến so với trước, từ đó đội ngũ cán bộ cơ sở có phần phấn khởi, an tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, một số đã trưởng thành là nguồn cho cán bộ cấp huyện.

Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức xã được quan tâm thực hiện từ năm 2005 đến nay, tỉnh Kiên giang bình quân hàng năm tỉnh dành 4,7 tỷ đồng từ ngân sách địa phương để đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho 15.400 lượt cán bộ, công chức. Từ năm 2010 đến nay địa phương đã phối hợp dự án ADB của Bộ Nội vụ tổ chức 4 lớp, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo điều hành cho 362 lượt Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp xã, qua đó trình độ các mặt của đội ngũ cán bộ, công chức xã có bước chuyển biến tiến bộ so với trước.

Năm 2012, cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên 82,17 %, tăng 46,81 %, trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên 52,81 %, tăng  15,94 % so với năm 2005.

Công tác quy hoạch cán bộ đã đi dần vào nề nếp đến nay các xã đã hoàn thành quy hoạch cấp ủy nhiệm kỳ 2015-2020 cơ bản đạt yêu cầu tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ có tuổi đời từ dưới 40 trở xuống chiếm 65,21%, trên cơ sở đó đã tiến hành luân chuyển để bố trí dần theo quy hoạch.

Ngoài chính sách giải quyết đầu ra cho cán bộ cơ sở theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP của Chính phủ, tỉnh còn ban hành chính sách giải quyết cho 2.216 cán bộ công chức xã, phường, thị trấn, những người hoạt động không chuyên trách xã, ấp, khu phố lớn tuổi, năng lực hạn chế, chưa đạt chuẩn về trình độ được nghỉ hưu, nghỉ việc trước tuổi theo quy định, được đông đảo cán bộ, công chức cơ sở đồng tình hưởng ứng, để góp phần nâng lên chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở.

II. Hạn chế, khuyết điểm:

Tuy chính sách tiền lương được cải tiến, nhưng lộ trình thực hiện quá chậm, đến năm 2004 công chức xã mới được hưởng chế độ tiền lương như công chức cấp huyện, còn cán bộ đến năm 2007 mới được thực hiện, trong khi chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp với dân, khối lượng công việc của cán bộ, công chức xã ngày càng tăng lên nặng nề, phức tạp hơn, thậm chí trong thực thi nhiệm vụ ở cơ sở, không chỉ giải quyết trong giờ hành chính, mà phải làm việc ngoài giờ hành chính khi dân có yêu cầu đến chính quyền, thường xuyên phát sinh những khó khăn phức tạp mới, tính chất mức độ của công việc hết sức nhạy cảm, trong khi đó chế độ chính sách thiếu đồng bộ và chưa công bằng, chịu thiệt thòi trong thời gian khá dài, nên người có trình độ năng lực không muốn về xã công tác, điều đó một phần đã chứng minh, vì sao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở nâng lên chậm, tình trạng “lão hoá” cán bộ xã là thực tế.

Tiền lương cán bộ, công chức cấp xã hiện tại được hưởng như cán bộ, công chức cấp huyện trở lên nhưng khi có yêu cầu chuyển thành công chức cấp huyện trở lên phải có ít nhất 5 năm công tác, đảm bảo đủ tiêu chuẩn của ngạch công chức thì mới xét chuyển, quy định như vậy là chưa thật phù hợp, chưa tạo được sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức các cấp.

Công chức cấp xã không được hưởng phụ cấp theo loại đơn vị hành chính như cán bộ cấp xã là thiếu công bằng vì tất cả cán bộ, công chức đều công tác trong cùng một địa bàn nhưng trong thực hiện chính sách lại có sự phân biệt. Đối với cán bộ đảng, mặt trận, đoàn thể và công chức cấp xã không được hưởng 30% phụ cấp như cán bộ, đảng, mặt trận, đoàn thể cấp huyện trở lên là thiếu bình đẳng, công bằng, còn phân biệt đối xử trong hệ thống hành chính 4 cấp.

Các chức danh Trưởng Ban Tổ chức, Trưởng ban Tuyên giáo, Chủ nhiệm UBKT, không phải là công chức là chưa phù hợp, với yêu cầu nhiệm vụ phải là cấp uỷ. Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là nguồn để bổ sung cho cán bộ, công chức cấp xã, nhưng không được xem là cán bộ, công chức cấp xã. Mức phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách không quá 1,0 lần lương tối thiểu là quá thấp, tạo nên một khoảng cách lớn trong hoạt động, không khuyến khích họ gắn bó và cộng đồng, “trách nhiệm”, chưa trở thành động lực để họ yên tâm công tác, tạo ra mặc cảm giữa những người hoạt động không chuyên trách và cán bộ, công chức cấp xã, gây khó khăn cho cấp uỷ trong phân công, bố trí, sử dụng cán bộ. Số lượng những người hoạt động không chuyên trách ấp, khu phố 3 người là quá ít, không đủ sức để hoàn thành nhiệm vụ tại địa bàn dân cư, nhất là đối địa bàn xã biên giới, các đảo độc lập xa trung tâm huyện, của tỉnh Kiên giang.

Trong quy hoạch cán bộ cơ sở, mới chỉ quan tâm các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt chưa chú ý đến các chức danh khác và đội ngũ làm công tác chuyên môn, công tác đào tạo, bồi dưỡng tuy có nhiều cố gắng nhưng còn chạy theo số lượng, chưa cân đối giữa đào tạo với sử dụng, chưa quản lý chặt chẻ đội ngũ cán bộ dự nguồn sau đào tạo, chưa có kế hoạch cụ thể để thực hiện tốt quá trình chuyển đổi các thế hệ cán bộ cấp xã. Tỷ lệ cán bộ, chưa qua đào tạo trung cấp chuyên môn còn 44,1%, chưa qua đào tạo lý luận chính trị sơ cấp còn 31,65%; công chức chưa qua đào tạo trung cấp chuyên môn còn 10,55%, chưa qua đào tạo lý luận chính trị sơ cấp còn 60,84%. Riêng những người họat động không chuyên trách cấp xã chưa qua đào tạo lý luận chính trị: 94,49%; chưa qua đào tạo chuyên môn: 70,04%; không chuyên trách ấp, khu phố chưa qua đào tạo chính trị: 85,85% và chuyên môn chiếm 95,59% (do chưa tốt nghiệp trung học phổ thông).

Tóm lại, tuy có những bất cập trong chính sách nêu trên, nhưng đến nay đại bộ phận cán bộ, công chức cấp xã vẫn bám địa bàn thực hiện tốt nhiệm vụ, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, kế hoạch của địa phương, góp phần quan trọng phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Kết quả đó cho thấy đội ngũ cán bộ công chức không vì những bất hợp lý về chính sách mà xuất phát từ sự giác ngộ cách mạng, từ ý thức trách nhiệm của mình phục vụ Tổ quốc và nhân dân. Tuy nhiên nếu để kéo dài quá lâu những bất hợp lý, không công bằng chính sách cán bộ ở cơ sở sẽ dẫn đến nhiều hệ luỵ: cán bộ không an tâm công tác, “lão hoá”, không thu hút người có trình độ về công tác, vì vậy sẽ không nâng lên được chất lượng đội ngũ cán bộ, không loại trừ những tiêu cực xấu tác động vô hiệu quá đến đội ngũ cán bộ cốt cán ở cơ sở.

Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trên là do: vẫn còn xem cán bộ cấp xã là bán thoát ly, nhưng thực chất vẫn làm việc hành chính 8 giờ/ngày và giải quyết khối lượng công việc không thua kém cấp huyện, từ đó chính sách thiếu công bằng trong hệ thống hành chính 4 cấp, còn chấp vá và phân biệt đối xử, gây so bì, mặc cảm trong cán bộ, công chức, thiếu an tâm công tác dễ nghỉ việc khi có điều kiện, chưa toàn tâm, toàn ý với công việc; chính sách thu hút của Trung ương, của tỉnh chưa khuyến khích được người có trình độ chuyên môn cao, sinh viên tốt nghiệp ra trường về công tác ở cơ sở.

III. NHỮNG KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ CƠ SỞ 

1. Mục tiêu chung:

Việc thực hiện chính sách đối với cán bộ cơ sở là vấn đề có tính cấp bách trong tình hình hiện nay, tiến tới đảm bảo sự bình đẳng, công bằng, giữa cán bộ với công chức các cấp; giữa cán bộ, công chức với những người hoạt động không chuyên trách, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và cán bộ, công chức, viên chức về công tác ở địa bàn khó khăn có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, yên tâm công tác, thực thi có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật đối với bộ máy hành chính cấp xã.      

2. Mục tiêu cụ thể:

- Xác định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền đô thị và nông thôn. Trên cơ sở đó làm tốt công tác xây dựng đội ngũ, cán bộ, công chức để cấp xã.

- Giải quyết vướng mắc, bất cập về chính sách hiện nay đối với cán bộ, công chức cấp xã và công chức, viên chức về công tác ở địa bàn khó khăn.

- Xây dựng chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện trở lên để tạo sự liên thông trong đội ngũ công chức các cấp.

3. Đề xuất chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở trong thời gian tới:

3.1- Về chính quyền đô thị:

Qua hai năm thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân phường cho thấy hoạt động của Ủy ban nhân phường nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân nhìn chung phù hợp, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả, quản lý nhà nước trên địa bàn phường. Quy trình giải quyết công việc, thời gian ra quyết định, tổ chức triển khai thực hiện các quyết định của tập thể Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường được rút ngắn thời gian so với còn Hội đồng nhân dân. Hoạt động của các chức danh công chức phường cơ bản ổn định, hoàn thành theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

Từ thực tiển trên, hướng bố trí tới, đề nghị nên thực hiện không tổ chức HĐND và UBND ở phường, mà nên tổ chức mô hình Uỷ ban hành chính (UBHC). Chức năng nhiệm vụ cơ bản của UBHC là giải quyết các nhiệm vụ về hành chính, các công việc có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người dân theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo phân cấp của cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp, nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với chính quyền đô thị ở cơ sở. UBHC phường có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, không có Ủy viên. Do không tổ chức HĐND phường, nên không bố trí Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND; đồng thời do tính đặc thù của địa bàn đô thị nên không bố trí chức danh Chủ tịch hội nông dân, do vậy số lượng cán bộ, công chức ở Phường: có thể bố trí không quá 25 người, theo các chức danh như sau:

 * Khối Đảng: 5 người

 + Bí thư Đảng ủy (kiêm Chủ nhiệm UBKT);

 + Phó Bí thư Đảng ủy (kiêm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra);

 + Văn Phòng Đảng uỷ;

 + Bố trí 3 cán bộ phụ trách công tác Đảng.

 * Khối Mặt trận, đoàn thể: 9 người

 + Chủ tịch MTTQ; Phó Chủ tịch MTTQ;

 + Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh;

 + Chủ tịch Hội LHPN; Chủ tịch Hội LHPN;

 + Chủ tịch Hội CCB; Phó Chủ tịch Hội CCB;

 + Chủ tịch Hội Chử thập đỏ;

 * Khối Chính quyền: 11 người

 + Chủ tịch UBHC;

 + Phó Chủ tịch UBHC;

 + Trưởng Công an; Phó Trưởng Công an;

 + Chỉ huy Trưởng Quân sự; Chỉ huy Trưởng Quân sự;

 + Văn phòng - Thống kê -  Kế hoạch;

 + Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường;

 + Tài chính - Kế toán;

 + Tư pháp - Hộ tịch;

 + Văn hóa - Xã hội.

3.2- Về chính quyền nông thôn:

Do địa bàn xã nông thôn rộng, giao thông nông thôn đi lại khó khăn, việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, không thuận tiện, xã là cấp chính quyền cơ sở trực tiếp với dân, là đơn vị lãnh thổ hành chính tự nhiên có đặc trưng về sự gắn bó chặt chẻ của cộng đồng dân cư trên cơ sở phong tục tập quán riêng, điều kiện phát triển KTXH tương đối độc lập, là nơi thể hiện tính tự quản rõ nét, do đó tổ chức chính quyền xã cần phải có cơ quan đại diện HĐND và cơ quan hành chính. Do đó việc bố trí số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã, theo kết quả phân loại đơn vị hành chính, không quá 30 người (so với Nghị định 92/2009/NĐ-CP, xã loại I tăng 5 người), bố trí theo các chức danh như sau:

* Khối Đảng: 6 người

+ Bí thư Đảng ủy;

+ Phó Bí thư Đảng ủy;

+ Văn Phòng Đảng uỷ;

+ Bố trí 3 cán bộ phụ trách công tác Đảng.

* Khối Mặt trận, đoàn thể: 11 người

+ Chủ tịch MTTQ; Phó Chủ tịch MTTQ;

+ Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh;

+ Chủ tịch Hội LHPN; Phó Chủ tịch Hội LHPN;

+ Chủ tịch Hội Nông dân; Phó Chủ tịch Hội Nông dân;

+ Chủ tịch Hội CCB; Chủ tịch Hội CCB;

+ Chủ tịch Hội Chử thập đỏ;

* Khối Chính quyền:13 người

+ Chủ tịch HĐND;

+ Phó Chủ tịch HĐND;

+ Chủ tịch UBHC;

+ Phó Chủ tịch UBHC;

+ Trưởng Công an; Phó Trưởng Công an;

+ Chỉ huy Trưởng Quân sự; Phó Chỉ huy Trưởng Quân sự;

+ Văn phòng - Thống kê - Kế hoạch (hoặc Văn phòng, Văn thư, Lưu trữ);

+ Giao thông - Thuỷ lợi – Nông –Lâm nghiệp- Môi trường;

+ Tài chính - Kế toán ( hoặc Tài chính - Kế hoạch);

+ Tư pháp - Hộ tịch;

+ Văn hóa - Xã hội.

( Đối với xã loại II và III có thể bố trí ít hơn 30 người).

3.3- Để tạo ra môi trường làm việc bình đẳng, không phân biệt đối xử, đảm bảo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức các cấp. Đề nghị Chính phủ bỏ chế độ quy định đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, nếu có bằng cấp thì xếp nâng lương theo ngạch, bậc của bằng cấp; nếu chưa qua đào tạo thì được áp dụng cho hưởng hệ số 2,00 mức lương tối thiểu chung.

3.4- Cấp xã được tuyển dụng như công chức từ cấp huyện trở lên, được thực hiện các chế độ chính sách như cán bộ, công chức huyện trở lên.

3.5- Công chức xã được hưởng phụ cấp theo phân loại đơn vị hành chính như cán bộ xã; được hưởng phụ cấp nghề (UBKT xã), như cán bộ cấp huyện (UBKT cấp huyện); cán bộ, công chức, đảng, mặt trận, đoàn thể cấp xã được hưởng phụ cấp như cán bộ đảng, mặt trận, đoàn thể cấp huyện trở lên.

3.6- Đối với các xã độc lập, xa trung tâm hành chính của các huyện đảo và đất liền, đề nghị cho hưởng chính sách đặc thù như xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

3.7- Đối với cán bộ hoạt động không chuyên trách ở ấp, đề nghị tăng thêm số lượng lên 5 chức danh, bao gồm Công an viên, Dân quân trực và cán bộ ấp, khu phố đồng thời thực hiện khoán sinh hoạt phí, để cơ sở chủ động tự cân đối.

3.8- Hoàn thiện chế độ bầu cử, sử dụng, đánh giá đối với cán bộ, công chức cấp xã:

- Về trình tự, thủ tục bầu cử thành viên UBND các cấp thực hiện theo hướng dẫn 975/HD-BNV, ngày 04/5/2004 của Bộ Nội vụ. Tuy nhiên phải điều chỉnh phần quy định bầu Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Ủy viên, không nhất thiết phải có số dư.

- Phường không tổ chức HĐND thì tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của đại diện nhân dân đối với chức danh Chủ tịch UBHC, từ kết quả đó, Chủ tịch UBHC cấp trên trực tiếp xem xét quyết định bổ nhiệm.

- Chủ tịch HĐND và UBHC cấp xã giữ chức vụ không quá 02 nhiệm kỳ liên tục (10 năm).

- Hướng dẫn những nội dung đánh giá xếp loại cán bộ, công chức cấp xã hàng năm phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

- Chức danh Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng - Môi trường bổ sung thêm trình độ chuyên môn, nghiệp vụ như trung cấp Thủy sản, Nông nghiệp, Môi trường; Chức danh Trưởng Công an, Trưởng Quân sự cần mở rộng thêm trình độ chuyên môn trung cấp luật.

3.9- Hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ, công chức cấp xã.

- Bộ Nội vụ có Hướng dẫn thống nhất trong cả nước về việc quản lý cán bộ, công chức cấp xã như hồ sơ, phiếu quản lý nhân sự cán bộ, công chức.

- Nội dung thanh tra, kiểm tra công tác quản lý, sử dụng và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức.

- Qui trình thủ tục điều động tiếp nhận cán bộ, công chức cấp xã từ đơn vị này sang đơn vị khác, từ vị trí này sang vị trí khác. Nhưng phải đảm bảo quyền lợi về BHXH, BHYT.

- Hoàn thiện quy chế, quy trình đánh giá, nhận xét quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, công chức xã. Đến 2020 có 100% cán bộ, công chức xã đạt chuẩn (trong đó 50% cán bộ, công chức có trình độ cao đẳng, đại học); 100% cán bộ xã biết sử dụng máy vi tính, từng bước thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu kém về năng lực, trình độ, không đủ uy tín để thực hiện nhiệm vụ.

3.10- Trong cơ cấu đối với cán bộ cấp xã yêu cầu phải trẻ hóa, so với cấp huyện, tỉnh và Trung ương, nhưng chính sách đầu ra thì như nhau (60 tuổi), đề nghị cần có chính sách, ưu đãi, hạ tuổi xuống (55 tuổi) so với quy định, khuyến khích “đầu ra” đối với cán bộ, công chức xã, từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

3.11- Cần cho thêm số lượng biên chế 2 chức danh để luân chuyển cán bộ, công chức từ trên xuống nhằm đào tạo theo quy hoạch (Phó Bí thư cấp uỷ và Phó Chủ tịch UBND cấp xã) và 2 biên chế dự bị, nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo cán bộ, công chức cấp xã.

3.12- Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng được bầu cử, tiếp nhận phân công làm cán bộ, công chức xã ở địa bàn xã đặc biệt khó khăn, ngoài chế độ tiền lương theo trình độ chuyên môn còn được hưởng phụ cấp thâm niên, phụ cấp như giáo viên xã 135.

3.13- Đối với cán bộ, công chức người dân tộc, đang công tác ở địa bàn xã đặc biệt khó khăn, được ưu đãi xét miễn thi chuyển ngạch và thi tuyển công chức, mà chỉ cần đảm bảo theo các điều kiện, tiêu chuẩn, theo quy định.

                                                                                                                                        NQT