Triển khai thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Kết quả bước đầu triển khai thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ#160;về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ công, chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã#160;trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, bước đầu đã tạo sự chuyển biến tích cực đối với cán bộ, công chức cấp xã.

Thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ công, chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 111/2010/NQ-HĐND ngày 10 tháng 6 năm 2010 về quy định chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ công chức, ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ấp khu phố thuộc tỉnh Kiên Giang; trên cơ sở đó, UBND tỉnh, ban hành Quyết định số 16/2010/QĐ-UBND ngày 26 tháng 7 năm 2010, Về việc ban hành quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ấp khu phố thuộc tỉnh Kiên Giang.

 Kết quả việc bố trí các chức danh cán bộ công chức cấp xã theo Nghị định số  92/2009/NĐ-CP của Chính phủ căn cứ vào loại đơn vị hành chính: xã loại I được bố trí 25 người có 102 đơn vị; xã loại II được bố trí 23 người, có 42 đơn vị; xã loại III bố trí 21 người, có 1 đơn vị;  những người hoạt động không chuyên trách xã loại I bố trí 22 người, xã loại II bố trí 20 người xã loại III bố trí 19 người.               

 Tổng số cán bộ, công chức cấp xã bố trí theo Nghị định số 92 là: 3.526   người (cán bộ: 1.740 người; công chức: 1.786 người); những người hoạt động không chuyên trách xã 4.496 người bố trí như sau:

 - Tổng số cán bộ đã bố trí: 1.515 người, trong đó:

+ Trình độ học vấn cấp II: 145 người chiếm 9,57%; cấp III: 1.370 người chiếm 90,42%.

+ Trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên 936 người chiếm 61,78%;

+ Trình độ chính trị sơ cấp: 23 người, chiếm tỷ lệ 1,51%;

+ Trình độ chính trị từ trung cấp trở lên 968 người chiếm 63,89%;

 - Tổng số công chức đã bố trí: 1.319 người, trong đó:

+ Trình độ học vấn cấp II: 20 người chiếm 1,51%; cấp III: 1.299 người chiếm  98,48%.

+ Trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên 1.125 người chiếm 85,29%;

+ Trình độ chính trị từ trung cấp trở lên 500 người chiếm 37,90%;

- Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã đã bố trí: 2.340         người, trong đó:

+ Trình độ học vấn cấp I: 18 người, chiếm 0,76%,;

+ Trình độ học vấn cấp II: 417 người chiếm 17,82%; cấp III: 1.905 người chiếm 81,41%.

+ Trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên 826 người chiếm 35,30%;

+ Trình độ chính trị sơ cấp: 209 người, chiếm 8,93%;

+ Trình độ chính trị từ trung cấp trở lên 440 người chiếm 18,80%.

                Qua thời gian triển khai thực hiện, nhìn chung các cấp ủy Đảng thường xuyên quan tâm chỉ đạo, chính quyền hàng năm đều xây dựng kế hoạch tập trung đào tạo, bồi dưỡng, từ đó đội ngủ cán bộ, công chức cơ sở đạt chuẩn theo quy định từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, nguồn cán bộ giử chức vụ bầu cử phần lớn là người tại chổ, củng là cán bộ nguồn bổ sung cho cấp huyện. Số lượng và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã có nhiều thuận lợi so với trước, được sự đồng tình nhất trí cao nhất là chế độ Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, tạo tâm lí an tâm phấn khởi hơn đối với cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở.

Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ, công chức chưa qua đào tạo chuyên môn và lý luận chính trị khá cao:

- Số cán bộ chưa qua đào tạo trung cấp chuyên môn trở lên: 38,21%; lý luận chính trị sơ cấp trở lên: 34,58%; công chức chưa qua đào tạo từ trung cấp chuyên môn trở lên: 14,70%; lý luận chính trị sơ cấp trở lên: 62,09%. Riêng những người hoạt động không chuyên trách cấp xã chưa qua đào tạo lý luận chính trị: 81,19%; chưa qua đào tạo chuyên môn: 64,70%; Số đông các trường hợp chưa đạt chuẩn về chuyên môn theo quy định là do tuổi cao, chưa tốt nghiệp cấp 3 với  435 người chiếm 18,58%.

- Việc chuyển xếp lương cho cán bộ cấp xã hiện nay còn vướng, như: đối với cán bộ chỉ có trình độ chính trị, không có chuyên môn nghiệp vụ thì Bộ Nội vụ chưa có văn bản hướng dẫn, mà trả lời miệng được coi như là bằng chuyên môn nghiệp vụ để chuyển xếp lương, như vậy trong thực tế sẽ mâu thuẩn với trường hợp có 2 bằng (nếu bằng chính trị có trước, chuyên môn có sau), thì căn cứ vào bằng nào để chuyển xếp lương cho phù hợp.

- Đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã hưởng sinh hoạt phí quy định không quá 1,00 mức lương tối thiểu chung như hiện nay là quá thấp.

Nguyên nhân hạn chế trên là:

-  Việc thực hiện chính sách đải ngộ đối với cán bộ, công chức xã chưa theo kịp với biến động tình hình đời sống hiện nay.

- Còn một số chức danh Trưởng các Ban Đảng không là công chức là chưa phù hợp./.

                                                                                                                                               

                                                                                                                                                             Ngô Quang Thắm